Bây giờ là:
03:38
Ngày:
05/05/26
IP của bạn:216.73.217.103
Hình ảnh người phụ nữ VN từ rất
lâu đã trở thành đề tài hấp dẫn
muôn thuở cho các nhà thơ, nhà
văn. Đặc biệt qua các bài “Tự
Tình” của Hồ Xuân Hương và
“Thương Vợ” của Trần Tế Xương
chúng ta sẽ hiễu rõ thêm phần
nào về thân phận của người phụ
nữ thời xưa dưới chế độ phong
kiến. Nhất là về phẩm chất cao
quý và nỗi đau đến chua xót của
những người phụ nữ thời bấy
giờ.
"Đêm khuya văng vẳng trống
canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non"
Với bút pháp tả thực, từ ngữ
giản dị đã gợi cho ta thấy được
sự cô đơn lạnh lẽo trong cái
không gian mênh mông thanh
vắng đến trống trải của đêm
khuya, âm thanh của tiếng trống
như làm khuấy động bầu không
khí yên tĩnh xung quanh và trong
tâm hồn của Hồ Xuân Hương. Từ
ngữ "hồng nhan" như ám chỉ
một người phụ nữ xinh đẹp,
quyến rủ thế nhưng nó lại cứ
"trơ" ra như là một sự mỉa mai.
Hồ Xuân Hương đã mạnh dạng
công khai một hiện thực hết sức
bẽ bàng, chua xót mà bà đang
nếm phải. Và cũng từ đó bà nhận
ra được số phận của những
người phụ nữ trong chế độ
phong kiến thối nát, với những
quan niệm "trai thì năm thê bảy
thiếp" đã làm cho người phụ nữ
không có được một chỗ đứng
trong xã hội, họ lo lắng cho thân
phận trôi nổi cuả mình bởi họ
không thể quyết định được
duyên phận, số phận của bản
thân họ.
"Chén rượu hương đưa say lại
tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa
tròn"
Bà đã mượn rượu để quên tình
đi, quên đi cái số phận hẩm hiu
của mình, nhưng say rồi lại tỉnh
lại càng buồn tủi hơn, đau khổ
hơn và càng nhận ra cái vòng
quẩn quanh trong cuộc đời thân
phận thật sự của chính bản thân
mình. Hình ảnh vầng trăng sắp
tàn mà lại khuyết chưa tròn như
ngụ ý một nhân duyên không
trọn vẹn mà tuổi xuân thì cứ lạnh
lùng trôi qua hết năm này qua
năm khác mà không trở lại.
"Xiên ngang mặt đất rêu từng
đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn"
Khoảng không gian như được
mở rộng hơn, xa hơn qua tầm
nhìn của tác giả, những động từ
"đâm", "xiên" của đá, rêu gợi lên
một sức sống mạnh mẽ, dù đó là
vật vô tri vô giác nhưng nó cũng
có sức sống mãnh liệt đến nỗi nó
cứ sống mãi sống mãi trong đôi
mắt của Hồ Xuân Hương, cùng
với sự bướng bỉnh thể hiện sự
kháng cự đầy quyết liệt của Hồ
Xuân Hương đã nói lên một nỗi
khao khát được hạnh phúc, có
được một mái ấm gia đình, được
người chồng thương yêu chăm
sóc chứ không phải ngồi một
mình trong đêm khuya thanh
vắng với sự cô đơn và lạnh lẽo
trong nỗi buồn tủi.
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con”
Hồ Xuân Hương đã chán ngán,
ngán ngẫm với nỗi cô đơn, buồn
tủi, khi ngày này lại tiếp nối ngày
khác, xuân này lại nối xuân khác
mà qua. Tâm trạng chán chường
trước một mảnh tình không
được trọn vẹn mà phải "chia năm
sẻ bảy" để rồi cuối cùng chỉ còn
một mảnh "tí con con". Mặc dù
Hồ Xuân Hương có bản lỉnh có
giỏi gian như thế nào cũng
không thoát khỏi được nghịch
cảnh của số phận. Bởi người phụ
nữ không hề có được địa vị
trong xã hội này. Cái xã hội bất
công "trọng nam khinh nữ", đã
làm cho người phụ nữ điêu
đứng, nhưng cũng từ đó những
phẩm chất tốt đẹp của họ được
bộc lộ rõ nét hơn…
"Quanh năm buôn bán ở mom
sông
Nuôi đủ năm con với một chồng"
Hoàn cảnh kiếm sống vất vả, lam
lũ của bà Tú đã được giới thiệu
rất rõ nét, thời gian cứ lặp đi lặp
lại hết năm này sang năm khác,
dù trời nắng hay mưa vả lại phải
buôn bán ở mom sông là nơi
nguy hiểm ẩn nấp, bà Tú phải
làm việc vất vả, cực nhọc để "nuôi
đủ năm con với một chồng" nói
lên cái gánh nặng đôi vai, một
bên là chồng, một bên là con .Đó
không phải là một điều dễ dàng
mà ai cũng có thể làm được.
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Tác giả đã sữ dụng biện pháp tu
từ đảo ngữ một cách tinh tế "lặn
lội thân cò " vừa nói lên được
cuộc sống vất vả tảo tần buôn
bán ngược xuôi, vừa khắc họa rõ
nét chân dung của bà Tú ở
những nơi nguy hiểm vắng vẻ
mà đáng ra việc đó phải dành
cho người chồng, người cha,
người trụ cột của gia đình thế
nhưng bà Tú lại phải gánh lấy
không một lời than phiền oán
trách. Câu thơ còn gợi tả cảnh
chen chúc, bươn bả trên sông
nước của những người buôn
bán nhỏ. Buổi “đò đông” không
chỉ có những lời phàn nàn, cáu
gắt, những sự chen lấn xô đẩy
mà còn chứa đầy sự bắc trắc
nguy hiểm.
"Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản
công"
Nói lên cái đức tính cao đẹp, giàu
đức hy sinh, dù gian nan, vất vả
thế nào thì cũng là duyên phận,
bà Tú chấp nhận tất cả, giấu kín
lòng mình với bao nỗi xót xa, tủi
cực chịu thương chịu khó vì
chồng vì con, biết chịu thương
chịu khó. Nghệ thuật đối trong
hai câu thơ trên đã làm nổi bật
phẩm chất tốt đẹp, tần tảo nuôi
con của bà Tú nói riêng và người
phụ nữ VN nói chung.
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như
không"
Tác giả như nói thay lời của vợ
mình_bà Tú, để than trách chính
bản thân mình, là người chồng
không làm được việc tích sự gì
để chăm lo đến gia đình rồi còn
trở thành một gánh nặng đè trên
vai người vợ, "hờ hững" không
hề quan tâm đến gia đình, vợ
con, không biết chia sẽ những
nỗi vất vả của vợ. Phải chăng đây
cũng chính là một gia đình điển
hình trong chế độ phong kiến
thời xưa với những thủ tục lạc
hậu "Tại gia tòng phụ, xuất giá
tòng phu, phu tử tòng tử" đã trở
thành một sự ràng buộc đối với
người phụ nữ.
Qua hai tác phẩm trên đã làm
cho chúng ta hiểu rõ thêm về
thân phận người phụ nữ thời
xưa, với những khát vọng,
những ước mơ nhỏ bé mà họ ao
ước được một gia đình ấm êm,
cuộc sống no đủ, có thể làm chủ
được số phận của mình. Và ta
càng hiễu rõ thêm những phẩm
chất tốt đẹp, sẵn sàng hy sinh vì
chồng vì con của người phụ nữ
VN
Online:1/1/2460
Trình duyệt:
Mozilla/5.0 AppleWebKit/537.36 (KHTML, like Gecko; compatible; ClaudeBot/1.0; +claudebot@anthropic.com)